Con sinh ra sau khi ly hôn có là con chung của vợ chồng? - Luật Hoàng Phi

Con sinh ra sau khi ly hôn có là con chung của vợ chồng?

(07/10/2016 | 9:23 - Lượt xem: 1148)

Tôi và chồng tôi là anh Trần Văn Tuấn do có mâu thuẫn nên tôi làm đơn xin ly hôn mặc dù tôi đang mang thai đứa con của anh Tuấn, thai được bốn tháng rồi. Năm tháng sau khi Tòa án giải quyết cho ly hôn, tôi sinh con. Vậy đứa con tôi sinh ra có được coi là con chung của hai vợ chồng không? anh Tuấn phải có nghĩa vụ gì đối với đứa con của mình? nếu anh ta cố tình không nhận thì tôi phải làm sao ạ?

Câu hỏi:

Tôi là Nguyễn Thị Mai, tôi có câu hỏi muốn nhờ Luật sư tư vấn cho tôi như sau: Tôi và chồng tôi là anh Trần Văn Tuấn do có mâu thuẫn nên không thể chung sống với nhau được nữa, tôi làm đơn xin ly hôn mặc dù tôi đang mang thai đứa con của anh Tuấn, thai được bốn tháng rồi. Năm tháng sau khi Tòa án giải quyết cho ly hôn, tôi sinh con nhưng anh Tuấn không thừa nhận đứa trẻ tôi mới sinh là con của mình (nhưng thật sự đó là con của anh Tuấn). Xin nói thêm lý do tôi làm đơn xin ly hôn là do tính hay ghen của chồng tôi, anh ta hễ cứ thấy tôi đi hay thân mật với người khác giới là tỏ ra bực tức, nghi kị về nhân cách của tôi, anh ta không nhận đứa trẻ bởi anh ta nghĩ đứa con đó không phải là con của mình và nói rằng tôi đi lại với rất nhiều người đàn ông không chắc gì đứa con đó đã là của anh ta. Vậy xin hỏi Luật sư, đứa con tôi sinh ra có được coi là con chung của hai vợ chồng không?và anh Tuấn phải có nghĩa vụ gì đối với đứa con của mình? nếu anh ta cố tình không nhận thì tôi phải làm sao ạ?. Xin cảm ơn Luật sư rất nhiều ạ!

 

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn, Luật sư của Hoàng Phi xin trả lời như sau:

–  Đứa con tôi sinh ra có được coi là con chung của hai vợ chồng không?

Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc xác định cha mẹ như sau:

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định

Con được coi là con chung của hai vợ chồng khi thuộc một trong các trường hợp nêu trên, việc xác định con chung có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc ghi nhận mối quan hệ cha, mẹ, con và là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh như: giải quyết các án kiện về ly hôn, chia tài sản thừa kế, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng…

Đối với trường hợp của bạn, bạn thông tin rằng bạn khi bạn làm đơn xin ly hôn với chồng thì bạn có thai khoảng bốn tháng. Năm tháng sau khi Tòa án giải quyết cho ly hôn, bạn  sinh con. Vậy, theo quy định trên thời điểm con bạn sinh ra chỉ sau năm tháng (tức 150 ngày) kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật nên vẫn được xác định là con chung của hai người.

con-sinh-ra-sau-ly-hon-co-phai-con-chung-cua-vo-chong

Con sinh ra sau khi ly hôn có là con chung của vợ chồng?

–  Anh Tuấn phải có nghĩa vụ gì đối với đứa con của mình?

Nếu đứa con đó đúng là con của chồng bạn thì chồng bạn sẽ phải có trách nhiệm, nghĩa vụ với đứa con đó với tư cách là cha của đứa bé sau khi ly hôn và phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1.  Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2.  Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3.Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Như vậy, bạn và chồng bạn cần thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi đảm bảo tốt nhất cho con dựa trên những điều kiện về vật chất như ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… Các yếu tố về tinh thần như thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ. Ngoài ra, việc xác định ai có quyền nuôi con sau ly hôn còn phụ thuộc vào độ tuổi của con (điều luật đã nêu cụ thể). Do đó, anh Tuấn có thể là người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc không trực tiếp nuôi, vậy có hai trường hợp cụ thể với những nghĩa vụ cụ thể sau:

+ Nếu anh Tuấn là người trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì thực hiện các nghĩa vụ đối với người không trực tiếp nuôi con (là bạn) quy định tại Điều 83 luật hôn nhân và gia đình 2014:

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

+ Nếu anh Tuấn không phải là người trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì anh phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 82 luật hôn nhân và gia đình 214:

“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2.  Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3.  Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

–  Với câu hỏi: “Nếu anh ta cố tình không nhận thì tôi phải làm sao”? 

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã nêu trên, nếu anh Tuấn không nhận đứa trẻ bạn sinh ra là con chung thì anh ta phải có bằng chứng và được Tòa án xác định. Vậy, khi anh Tuấn cố tình không nhận thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra tòa án để xác định cha con cho con của mình, kèm theo đơn khởi kiện thì bạn cần chuẩn bị các chứng cứ để chứng minh đứa trẻ là con của anh Tuấn mà chứng cứ rõ ràng và chuẩn xác nhất là kết quả xét nghiệm ADN, bạn có thể tự mình hoặc đề nghị Tòa án giám định ADN của đứa trẻ theo quy định tại Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Điều 102. Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định

1.  Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

2.  Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.

3.  Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết.

4.  Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.

5.  Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật giám định tư pháp.”

Tóm lại, nếu kết quả trưng cầu giám định xác định anh Tuấn và đứa trẻ có quan hệ huyết thống thì Tòa án sẽ xác định quan hệ cha con trong trường hợp này, dù anh Tuấn dù cho có cố tình không nhận thì cũng phải thực hiện những nghĩa vụ đối với con của mình, nếu không thực hiện thì sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN 1900 - 6557

Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu và cung cấp địa chỉ Email để luật sư liên hệ trả lời

Họ tên (*):

Điện thoại (*):

Email (*):

Lĩnh vực (*):

Nội dung (*):

Lưu ý: (*) là bắt buộc

Mọi thông tin cần tư vấn,quý khách vui lòng liên hệ:

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ 24/7: 

Lưu ý: Tất cả các bài viết được đăng tải trên website: http://tongdaituvanluat.vn chỉ mang tính chất tham khảo và không được coi là ý kiến tư vấn để áp dụng trong các trường hợp cụ thể của khách hàng. Nghiêm cấm sao chép, tái bản dưới mọi hình thức khi chưa được sự chấp thuận bằng văn bản của Công ty Luật Hoàng Phi và người gửi yêu cầu tư vấn.

Các bài viết liên quan

Dịch vụ nổi bật

Tư vấn pháp luật, gọi: 19006557
banner left