Khái niệm tội phạm là gì mới nhất - Luật Hoàng Phi

Khái niệm tội phạm là gì mới nhất

(12/05/2016 | 18:42 - Lượt xem: 5361)

Khái niệm tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cô’ ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thô tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Khái niệm tội phạm là gì?

Theo quy định tại Bộ luật hình sự khái niệm tội phạm như sau:

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cô’ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tô chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

4. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Bình luận và phân tích:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cô’ ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thô tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

toi-pham-la-gi

Khái niệm tội phạm là gì mới nhất

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hai lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Những hành vi tuy có các dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Khoản 1 của Điều luật xác định khái niệm tội phạm một cách khoa học, thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước về tội phạm. Nó không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong việc phân các tội phạm của Bộ luật Hình sự mà còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể.

Nếu như Điều 1 của Bộ luật Hình sự nêu lên những quan hệ xã hội chung quan trọng nhất được Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm thì Điều 8, khoản 1 đã cụ thể hóa những quan hệ xã hội đó thành những khách thể của tội phạm. Đó là: Độc lập, chủ quyền, thông nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Khái niệm “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự…“. Điều 8 khẳng định sự loại trừ việc áp dụng Luật hình sự theo nguyên tắc tương tự (xem Điều 2).

Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trung tâm của luật Hình sự. Trong lịch sử có những quan niệm khác nhau về khái niệm tội phạm. Việc đưa ra khái niệm này cho phép phân biệt hành vi nào là tội phạm hành vi nào không phải là tội phạm. Các luật gia tư sản nhấn mạnh tính hình thức của tội phạm. Cụ thể họ cho rằng: Tội phạm là hành vi bị luật Hình sự cấm hoặc là “Vi phạm pháp luật bị Bộ luật Hình sự trừng trị”: (BLHS Pháp 1810) hoặc là “Hành vi do luật Hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” (BLHS Thụy Sĩ năm 1937). Như vậy, yếu tô” luật Hình sự quy định, luật Hình sự cấm, luật Hình sự trừng trị là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Điều này hết sức nguy hiểm ở chỗ nhiều khi nó cho phép nhà làm luật đữa ý chí chủ quan của mình vào việc quy định hành vi nào là tội phạm. Tuy nhiên, yếu tố luật định của tội phạm mà luật Hình sự tư sản đưa ra đã cho thấy được tiến bộ vượt bậc. So với luật Hình sự phong kiến tránh được sự tùy tiện khi coi một hành vi nào đó là tội phạm. Được quy định tội phạm luật Hình sự hay Bộ luật Hình sự chỉ là dấu hiệu hình thức của tội phạm. Tội phạm còn được xác định thông qua dấu hiệu về mặt nội dung. Đó là: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội”. Tuy nhiên đánh giá thế nào là nguy hiểm cho xã hội là vấn đề cần được làm sáng tỏ nếu không dễ rơi vào chủ quan, duy ý chí khi quy định tội phạm. Các tiêu chí để xác định tính nguy hiểm cho xã hội ởmức độ tội phạm gồm:

–  Tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại

–  Hiệu quả do hành vi phạm tội gây ra

–  Tính chất và mức độ lỗi: các hình thức lỗi, các dạng lỗi, động cơ mục đích phạm tội…

–  Các yếu tố đặc trưng cho hành vi phạm tội như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ phạm tội.

 Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam còn có một yếu tố mà nhà làm luật xem như 1 trong những yếu tố làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó là yếu tố nhân thân người phạm tội. Ví dụ yếu tố “Đã bị xử lý hành chính”… Đây là vấn đề đang tranh luận trong khoa học luật Hình sự. Bởi lẽ việc quy định yếu tố nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội “không phù hợp với nguyên tắc chung của luật Hình sự. Đó là nguyên tắc: Một người không thể bị xử phạt hình sự về nhân thân xấu của họ”.

Tội phạm còn được thể hiện thông qua dấu hiệu: Năng lực trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đây là đặc tính quan trọng không thể bỏ qua khi quy định khái niệm tội phạm. Năng lực trách nhiệm hình sự thể hiện ở khả năng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức và điểu được hành vi của mình. Điều đó cho thấy cho dù gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nào đó nhưng nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm không nhận thức được hành vi, không điều khiển được hành vi thì hành vi đó không là hành vi tội phạm.

Tính có lỗi: Tội phạm luôn là hành vi có lỗi. Cũng có lúc, có nơ luật Hình sự coi những hành vi không có lỗi là tội phạm. Đây được gọi  là nguyên tắc “quy tội khách quan” – chỉ căn cứ vào hành vi để buộc tội trong khi tội phạm là tổng hợp các yếu tố chủ quan và khách quan. Yêu tố khách quan là các hành vi, yếu tố chủ quan là lỗi. Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi của mình và hậu quả đốì vối hành vi đó. Lỗi có một quá trình hình thành từ khi phát sinh những nhu cầu, xác định động cơ, mục đích, nhận thức các yếu tố chủ quan, khách quan của hành vi và cuối cùng là lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi. *

Như vậy, căn cứ vào Điều 8 BLHS có thể đưa ra khái niệm tội phạm một cách khái quát: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thực hiện, có lỗi được quy định trong BLHS.

Hiện nay, trong khoa học luật Hình sự còn có ý kiến cho rằng tội phạm còn một dấu hiệu nữa là tính phải chịu hình phạt.

Khoản 2 Điều luật quy định việc phân loại tội phạm:

Bộ luật Hình sự năm 1985 căn cứ vào tầm quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội hoặc do tính chất và quy mô lớn của hậu quả đã gây ra mà phân loại tội phạm thành hai nhóm: tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng.

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lốn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng.

Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, tham khảo Bộ luật Hình sự của một số nước trên thế giới, Bộ luật Hình sự 1999 của Nhà nước ta đã phân loại tội phạm thành 4 loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Khoản 3 của Điều luật quy định một cách cụ thể từng loại tội phạm: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lỡn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lốn cho xã hội mà mức cao nhất của hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Sự phân loại tội phạm thành 4 loại như trên, vừa là biểu hiện cơ bản của sự phân hoá trách nhiệm hình sự một cách rõ ràng, dứt khoát, vừa là sự thông nhất cho sự phân hoá trách nhiệm hình sự trong phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự. Đây cũng là thể hiện sự phân hoá trong đường lối đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm khác nhau và đó cũng là những căn cứpháp lý thông nhất, giúp các nhà hoạt động thực tiễn có thể thực hiện được nguyên tắc cá thể hoá hình phạt khi áp dụng Luật hình sự, tránh áp dụng pháp luật một cách tuỳ tiện.

Việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa về nhiều mặt như: Tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện chính sách cải tạo giáo dục, cho việc xác định chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm v.v… thể hiện trong Bộ luật Hình sự.

Khoản 4 của Điều luật quy định: Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. Ví dụ: Trộm cắp vặt, gây thương tích nhẹ, vô ý gây thiệt hại nhỏ nhặt v.v…

Có dấu hiệu tội phạm tức là có đầy đủ 4 dấu hiệu của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi.

Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất khiến nó không bị coi là tội phạm là tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm: Khái niệm tội phạm là gì, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT 19006557 để được tư vấn.

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN 1900 - 6557

Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu và cung cấp địa chỉ Email để luật sư liên hệ trả lời

Họ tên (*):

Điện thoại (*):

Email (*):

Lĩnh vực (*):

Nội dung (*):

Lưu ý: (*) là bắt buộc

Mọi thông tin cần tư vấn,quý khách vui lòng liên hệ:

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ 24/7: 

Lưu ý: Tất cả các bài viết được đăng tải trên website: http://tongdaituvanluat.vn chỉ mang tính chất tham khảo và không được coi là ý kiến tư vấn để áp dụng trong các trường hợp cụ thể của khách hàng. Nghiêm cấm sao chép, tái bản dưới mọi hình thức khi chưa được sự chấp thuận bằng văn bản của Công ty Luật Hoàng Phi và người gửi yêu cầu tư vấn.

Các bài viết liên quan

Dịch vụ nổi bật

Tư vấn pháp luật, gọi: 19006557
banner left