Mượn xe đi đánh bạc không có khả năng trả lại phạm tội gì? - Luật Hoàng Phi

Mượn xe đi đánh bạc không có khả năng trả lại phạm tội gì?

(12/12/2016 | 10:27 - Lượt xem: 674)

Anh tôi mượn xe máy của bạn thân, sau đó bán đi để đánh bạc, giờ không có khả năng trả lại. Vậy, xin hỏi Luật sư anh tôi có phạm tội không? Nếu có thì đó là tội gì? Hình phạt ra sao?

Câu hỏi:

Ngày 16/11/2016, anh trai tôi có mượn xe máy của anh Minh là bạn thân để đèo vợ và con về quê ăn cưới. Khi đến đám cưới, thấy mọi người đang đánh bạc, sẵn trong túi có 5 triệu đồng anh tôi có tham gia nhưng bị thua hết. Vì muốn gỡ lại tiền nên anh tôi đã bán luôn xe máy đã mượn của anh Minh cho Hùng ở trong đám bạc được 10 triệu đồng. Số tiền này, anh tôi đã thua hết nên không có khả năng trả lại cho anh Minh. Vậy, xin hỏi Luật sư anh tôi có phạm tội không? Nếu có thì đó là tội gì? Hình phạt ra sao? Xin cảm ơn!

 

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn Luật Hoàng Phi xin trả lời như sau:

Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Theo như điều luật trên thì về mặt khách quan, việc vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng hợp pháp (hình thức của hợp đồng có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng) và sau khi nhận được tài sản thông qua hợp đồng hợp pháp trước đó thì đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đây là hành vi sử dụng tài sản không đúng nghĩa vụ cam kết dẫn đến việc không thể trả lại cho chủ sở hữu.

muon-xe-khong-co-kha-nang-tra-co-pham-toi-khong

Mượn xe đi đánh bạc không có khả năng trả lại phạm tội gì?

Như bạn đã trình bày, anh trai của bạn mượn được xe của bạn thân là anh Minh (chiếc xe này trị giá 20 triệu đồng) nhưng sau khi mượn được xe của Minh thì anh trai bạn đã sử dụng chiếc xe đó vào mục đích bất hợp pháp (bán xe máy đó được 10 triệu đồng để lấy tiền đánh bạc). Hành vi của anh trai bạn chính là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, do vậy, anh trai bạn phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015.

Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội đánh bạc như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Ngoài tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, anh trai bạn còn phạm tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 như trên bởi đã có hành vi tham gia đánh bạc (số tiền ban đầu tham gia đánh bạc là 5 triệu đồng, sau đó vay Hùng ở trong đám bạc được 10 triệu nữa) và thua tổng cộng hết 15 triệu đồng (số tiền ban đầu tham gia đánh bạc là 5 triệu đồng, sau đó vay Hùng ở trong đám bạc được 10 triệu nữa). 

Vậy, anh trai bạn phạm hai tội là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội đánh bạc. Theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015 thì Tòa án sẽ quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

“1. Đối với hình phạt chính:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;

d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;

đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác;

2. Đối với hình phạt bổ sung:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.”

Ngoài ra, khi quyết định hình phạt đối với anh bạn Tòa án còn căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thân nhân của anh bạn (có tiền án, tiền sự gì không), các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ (quy định tại Điều 51,52 Bộ luật Hình sự 2015) để quyết định mức hình phạt chính xác và khách quan nhất.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, anh/chị có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN 1900 - 6557

Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu và cung cấp địa chỉ Email để luật sư liên hệ trả lời

Họ tên (*):

Điện thoại (*):

Email (*):

Lĩnh vực (*):

Nội dung (*):

Lưu ý: (*) là bắt buộc

Mọi thông tin cần tư vấn,quý khách vui lòng liên hệ:

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ 24/7: 

Lưu ý: Tất cả các bài viết được đăng tải trên website: http://tongdaituvanluat.vn chỉ mang tính chất tham khảo và không được coi là ý kiến tư vấn để áp dụng trong các trường hợp cụ thể của khách hàng. Nghiêm cấm sao chép, tái bản dưới mọi hình thức khi chưa được sự chấp thuận bằng văn bản của Công ty Luật Hoàng Phi và người gửi yêu cầu tư vấn.

Các bài viết liên quan

Dịch vụ nổi bật

Tư vấn pháp luật, gọi: 19006557
banner left