Thế nào là tội cưỡng dâm theo Bộ luật hình sự 2015? - Luật Hoàng Phi

Thế nào là tội cưỡng dâm theo Bộ luật hình sự 2015?

(18/05/2016 | 14:13 - Lượt xem: 2743)

Cưỡng dâm được hiểu là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người đang bị lệ thuộc vào người phạm tội hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách phải giao cấu với người phạm tội một cách miễn cưỡng.

1. Thế nào là tội cưỡng dâm theo Bộ luật hình sự 2015?

Theo quy định tại Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội cưỡng dâm như sau:

“1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Cưỡng dâm 02 lần trở lên;

c) Cưỡng dâm 02 người trở lên;

d) Có tính chất loạn luân;

đ) Làm nạn nhân có thai;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2. Tư vấn và bình luận về tội cưỡng dâm theo Bộ luật hình sự 2015.

Thứ nhất: Các yếu tố cấu thành tội cưỡng dâm.

toi-cuong-dam

Thế nào là tội cưỡng dâm theo Bộ luật hình sự 2015?

Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này gồm có các dấu hiệu sau:

– Về hành vi. Có hành vi giao cấu với người khác (là người bị lệ thuộc hoặc đang cần sự giúp đỡ do đang ở trong tình trạng quẫn bách) bằng cách dùng thủ đoạn như dụ dỗ, mua chuộc, đe doạ…

– Dấu hiệu khác.

Đối tượng bị hại phải là người có mối quan hệ lệ thuộc với người phạm tội. Được hiểu là mối quan hệ lệ thuộc về nhiều mặt: về vật chất (như được nuôi dưỡng, được trợ giúp về điều kiện sinh sống..) về xã hội (như giữa giáo viên với học sinh, giữa bác sĩ với bệnh nhân), về tín ngưỡng (giữa tín đồ với người có chức sắc tôn giáo), về quan hệ gia đình (như giữa anh chị em cùng cha khác mẹ…), về công tác (như giữa thủ trưởng với nhân viên thuộc quyền…). Tất cả mối quan hệ nêu trên phải là mối quan hệ lệ thuộc thực sự, tức là người phạm tội phải có uy thế nhất định đối với người bị hại.

Người đang ở trong tình trạng quẫn bách: Được hiểu là trường hợp người bị hại đó đang gặp những khó khăn rất lớn về kinh tế… khó có thể khắc phục được hoặc đang gặp hiểm hoạ (như người thân đang mắc bệnh hiểm nghèo không có điều kiện về tài chính để đưa đi chữa trị, bản thân hoặc gia đình bị thiên tai bị phá sản… nên bị túng thiếu nghiêm trọng cần phải có ngay sự giúp đỡ).

Phải là miễn cưỡng giao cấu với người phạm tội: Được hiểu là người bị hại chấp nhận giao cấu nhưng không phải tự nguyện mà do sự tác động bởi các thủ đoạn khống chế tư tưởng (như doạ dẫm, hứa hẹn, giúp đỡ…) của người phạm tội.

Ví dụ: Bác sĩ đặt điều kiện với bệnh nhân đang bị bệnh hiểm nghèo là cho giao cấu mới chữa trị cho người đó và nạn nhân (bệnh nhân) đã chấp nhận điều kiện đó đế được chữa trị.

Lưu ý:

+ Việc dùng thủ đoạn để khống chế tư tưởng bằng cách doạ dẫm ngưòi khác chưa phải đến mức thực sự làm họ khiếp sợ đến mức ý chí tự vệ bị tê liệt, nghĩa là họ vẫn còn khả năng kháng cự, tuy nhiên họ đã không kháng cự (đây là điểm khác biệt với trường hợp hiếp dâm, người bị hại đã tê liệt ý chí không kháng cự được) mà tự nguyện cho giao cấu một cách miễn cưỡng theo điều kiện mà người phạm tội đã đưa ra.

+ Tội phạm hoàn thành từ lúc người bị hại giao cấu với người phạm tội.

+ Việc đe doạ không phải là đe doạ dùng vũ lực.

+ Người bị hại là người từ đủ mười sáu tuổi trở lên.

Khách thể:

Hành vi cưỡng dâm nêu trên xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự và sức khoẻ của người khác.

Mặt chủ quan:

Người phạm tội cưỡng dâm thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý, đồng thời còn xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của người khác.

Chủ thể:

Chủ thể của tội cưỡng dâm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, đồng thời phải có mối quan hệ lệ thuộc với người bị hại hoặc có quan hệ nhất định trong việc giúp đỡ người bị hại thoát khỏi tình trạng quẫn bách.

Thứ hai: về hình phạt.

Hình phạt của tội này được chia thành bốn khung, cụ thể như sau:

Khung một (khoản 1)

Có mức phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Được áp dụng đốì với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nêu ở mặt khách quan.

Khung hai (khoản 2)

Có mức phạt tù từ ba năm đến mười năm. Được áp dụng đốì với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:    

+ Nhiều người cưỡng dâm một người (xem giải thích tương tự ở tội hiếp dâm).

+ Cưỡng dâm nhiều lần (từ hai lần trở lên).

+ Cưỡng dâm nhiều người (xem giải thích tương tự ở tội hiếp dâm).

+ Có tính chất loạn luân (xem giải thích tương tự ở tội hiếp dâm).

+ Làm nạn nhân có thai (việc xác định nạn nhân có thai hay không phải căn cứ vào kết quả giám định của cơ quan y tế chuyên môn).

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

+ Tái phạm nguy hiểm (xem giải thích tương tự ở tội giết người).

– Khung ba (khoản 3)

Có mức phạt tù từ bảy năm đến mười tám năm. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61%

trở lên;

+ Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội cưỡng dâm;

+ Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

– Khung bốn (khoản 4)

Có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Được áp dụng trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi.

Thứ ba: Hình phạt bổ sung (khoản 5)

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN 1900 - 6557

Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu và cung cấp địa chỉ Email để luật sư liên hệ trả lời

Họ tên (*):

Điện thoại (*):

Email (*):

Lĩnh vực (*):

Nội dung (*):

Lưu ý: (*) là bắt buộc

Mọi thông tin cần tư vấn,quý khách vui lòng liên hệ:

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ 24/7: 

Lưu ý: Tất cả các bài viết được đăng tải trên website: http://tongdaituvanluat.vn chỉ mang tính chất tham khảo và không được coi là ý kiến tư vấn để áp dụng trong các trường hợp cụ thể của khách hàng. Nghiêm cấm sao chép, tái bản dưới mọi hình thức khi chưa được sự chấp thuận bằng văn bản của Công ty Luật Hoàng Phi và người gửi yêu cầu tư vấn.

Các bài viết liên quan

Dịch vụ nổi bật

Tư vấn pháp luật, gọi: 19006557
banner left