Tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Luật Hoàng Phi

Tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

(10/04/2017 | 10:13 - Lượt xem: 1793)

Tôi có cho một người bạn thân là chị Hòa mượn giấy tờ nhà đất do Hòa nói rằng dùng nó để chuộc lại chiếc xe máy đang cầm cố, nhưng sau đó chị ta lại giả chữ ký của tôi để cầm cố nhà, vay 150 triệu của ngân hàng. Tôi đã nhiều lần đòi nhưng chị ta không trả, vậy xin hỏi luật sư giờ tôi phải làm thế nào để lấy lại được giấy tờ nhà của mình?

Câu hỏi:

Tôi là Nguyễn Thị Quỳnh ở Ninh Bình có thắc mắc muốn luật sư tư vấn cho tôi như sau: Nguyễn Thị Hòa là bạn thân của tôi, chúng tôi chơi với nhau được hơn chục năm rồi, tình cảm thân thiết như chị em trong nhà. Tháng 2/2017, chị Hòa có mượn giấy tờ nhà của tôi và nói là để chuộc lại chiếc xe máy đang cầm cố. Vì tin tưởng, thân quen nhau nên tôi đồng ý cho Hòa mượn mà không chút nghi ngờ. Nhưng khi mượn được bộ giấy tờ nhà của tôi, Hòa đã tự viết giấy biên nhận lấy tên tôi và giả mạo chữ ký của tôi để cầm cố nhà, vay 150 triệu của ngân hàng. Sau khi vay được tiền, Hòa đã sử dụng số tiền trên để trả nợ và chi tiêu cá nhân. Tôi rất bức xúc, nhiều lần đòi bộ hồ sơ nhà nhưng cô ta không trả. Vậy, xin hỏi luật sư giờ tôi phải làm thế nào để lấy lại được giấy tờ nhà của mình? Xin cảm ơn!

 

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn Luật Hoàng Phi xin trả lời như sau:

Tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Đồng thời Điều 143 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 cũng quy định như sau:

“Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

1. Tố giác của cá nhân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

6. Người phạm tội tự thú.”.

Vậy, như bạn đã trình bày, việc Nguyễn Thị Hòa mượn bộ hồ sơ giấy tờ nhà của chị nói là để chuộc lại xe máy đang cầm cố nhưng thực tế lại giả chữ ký của chị để cầm cố nhà, vay 150 triệu của ngân hàng là có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS, Vì vậy, để lấy lại giấy tờ nhà, chị phải làm đơn tố giác hành vi phạm tội mà chị Hòa đã thực hiện với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với cơ quan khác, tổ chức (Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự 2015). Chỉ có như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của chị mới được bảo vệ.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn. 

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT TRỰC TUYẾN 1900 - 6557

Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu và cung cấp địa chỉ Email để luật sư liên hệ trả lời

Họ tên (*):

Điện thoại (*):

Email (*):

Lĩnh vực (*):

Nội dung (*):

Lưu ý: (*) là bắt buộc

Mọi thông tin cần tư vấn,quý khách vui lòng liên hệ:

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ 24/7: 

Lưu ý: Tất cả các bài viết được đăng tải trên website: http://tongdaituvanluat.vn chỉ mang tính chất tham khảo và không được coi là ý kiến tư vấn để áp dụng trong các trường hợp cụ thể của khách hàng. Nghiêm cấm sao chép, tái bản dưới mọi hình thức khi chưa được sự chấp thuận bằng văn bản của Công ty Luật Hoàng Phi và người gửi yêu cầu tư vấn.

Các bài viết liên quan

Dịch vụ nổi bật

Tư vấn pháp luật, gọi: 19006557
banner left